Thap Thap Di Da Pagoda is over 300 years old and is an attractive place that tourists should not miss when exploring the land of Binh Dinh. Located in Nhon Thanh ward, An Nhon town, Binh Dinh province, Thap Thap Di Da Pagoda or Thap Thap Pagoda is one of the most famous pagodas in the Central region. The pagoda is located on a hill named Long Bich, north of Do Ban citadel of the ancient Cham people. The name "Thập Tháp" originates from the fact that on this hill there were once 10 Cham towers, which later collapsed and gradually lost their traces. The pagoda was formed in 1683, when Zen master Nguyen Thieu, a monk originally from Guangdong province, China, used bricks and stones from 10 fallen towers to build the pagoda. The pagoda has undergone many renovations, and its current appearance was shaped in the early 20th century. The pagoda has Khau-shaped architecture. The main hall is the main building, built in the style of a Ruong house, consisting of three compartments and two wings structured by 4 rows of main columns, 4 rows of military columns, 8 sub-columns and 16 porch columns. In addition to the main architecture, Thap Thap Pagoda also has an ancient tower garden with 24 large and small stupas with rich architectural forms. All were built in the 19th - 20th centuries. Through many times of restoration and embellishment, although the old and new are interwoven, the architecture of Thap Thap Pagoda still retains its ancient quality in a harmonious whole. The pagoda has been recognized as a national historical and cultural...
Read moreChùa Thập Tháp Di Đà tọa lạc ở thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Theo quốc lộ I từ Quy Nhơn ra Quảng Ngãi, qua khỏi thị trấn Đập Đá, đến cầu Vạn Thuận, có con đường bên trái khoảng 200m dẫn vào chùa.
Tên chùa “Thập Tháp” là nguyên trước đây trên khu đồi này có 10 ngôi tháp Chăm, sau bị sụp đổ. Tên “Di Đà” là danh hiệu đức Phật giáo chủ cõi Cực lạc. Di Đà cũng có nghĩa là lý tánh, bản giác của chúng sinh. Tập hợp các ý nghĩa trên, tổ đình mang tên Thập Tháp Di Đà Tự.
Chùa tổ đình Thập Tháp Di Đà gắn với tên tuổi vị khai sơn là Thiền sư Nguyên Thiều. Nhiều tư liệu ngày nay cho biết Ngài họ Tạ, tự là Hoán Bích, người huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ngài sinh năm Mậu Tý (1648), năm 19 tuổi xuất gia ỏ chùa Báo Tự. Năm 1677, Ngài theo thuyền buôn của người Trung Quốc đến phủ Quy Ninh, nay thuộc tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 28 km, dựng thảo am thờ Phật A Di Đà. Năm 1683, chùa đã dùng gạch đá của 10 ngôi tháp đổ dựng lên ngôi chùa.
Chùa đã trải qua 16 đời truyền thừa với nhiều vị thiền sư danh tiếng như: Thiền sư Liễu Triệt, Thiền sư Minh Lý, Thiền sư Phước Huệ … Thiền sư Phước Huệ đã được tôn làm Quốc sư. Ngài đã được mời vào giảng kinh trong hoàng cung nhà Nguyễn từ đời vua Thành Thái đến vua Bảo Đại, và giảng dạy Phật pháp ở Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên (Huế) từ năm 1935.
Từ ngoài vào, đi dọc theo hồ sen đến cổng chùa, đó là hai trụ biểu vuông cao, trên đặt hai tượng sư tử ngồi uy nghi, nối một vòng cung, phía trên có gắn hai chữ "Thập Tháp". Sau cổng là tấm bình phong, mặt đắp nổi long mã phù đồ đặt trên bệ chân quỳ.
Chùa kiến trúc theo kiểu chữ “Khẩu”; gồm ngôi chánh điện, đông đường (giảng đường), tây đường (nhà Tổ) và nhà phương trượng.
Ngôi chánh điện do Thiền sư Liễu Triệt cho trùng kiến vào năm 1749. Ngôi chánh điện ngày nay mái thẳng, lợp ngói âm dương, trên nóc có lưỡng long tranh châu. Phật điện được bài trí tôn nghiêm, chính giữa thờ tượng Tam Thế Phật, Chuẩn Đề, Ca Diếp, A Nan; khám thờ Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Địa Tạng đặt hai gian hai bên điện Phật; hai vách tả hữu đặt tượng Thập Bát La Lán, tượng Thập Điện Minh Vương, Hộ Pháp, Tổ sư Đạt Ma và Tổ sư Tì Ni Đa Lưu Chi. Hầu hết các tượng thờ đều được tạc vào thời Thiền sư Minh Lý trụ trì (1871-1889).
Chùa đã được chúa Nguyễn Phúc Chu ban tấm biển "Sắc Tứ Thập Tháp Di Đà Tự" treo giữa cửa chính ngôi chánh điện, Hòa thượng Mật Hoằng trùng khắc lại năm 1821. Đại hồng chung (đúc năm 1893) và trống lớn được đặt ở hai đầu hành lang.
Phía sau chánh điện có tấm bia ghi bài minh Sắc tứ Thập Tháp Di Đà Tự bi minh do cư sĩ Dương Thanh Tu biên soạn, Hòa thượng Minh Lý lập năm 1876.
Nhà phương trượng nằm sau ngôi chánh điện do Quốc sư Phước Huệ cho xây vào năm 1924. Nhà Tổ ở phía Nam, nối ngôi chánh điện và nhà phương trượng, thờ Tổ khai sơn Nguyên Thiều và chư vị trụ trì, chư Tăng quá cố và chư Phật tử quá vãng. Đối diện nhà Tổ là giảng đường, ở đây có bảng gỗ ghi bài "Thập Tháp Tự Chí" do Thị giảng Học sĩ phủ An Nhơn Võ Khắc Triển soạn năm 1928, ghi lại lịch sử khai sáng, quá trình xây dựng và truyền thừa của ngôi tổ đình Thập Tháp.
Đặc biệt, Báo Bình Định cho biết, chùa còn lưu giữ 2.000 bản khắc gỗ dùng in kinh Di Đà sớ sao, Kim Cang trực sớ, Pháp Hoa khóa chú ... Bộ Đại Tạng Kinh do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ cúng dường còn 1.200 quyển kinh, luật, luận và ngữ lục. Chùa còn lưu giữ bộ Đại Tạng Kinh Cao Ly và bộ Đại Tạng Kinh Đài Loan.
Vườn tháp Tổ nằm ở phía Bắc với 20 ngôi tháp cổ kính an trí nhục thân của các vị trụ trì và chư tôn túc trong chùa. Sau chùa, còn có tháp Bạch Hổ và tháp Hội Đồng
Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Chùa Thập Tháp Di Đà là ngôi tổ đình danh tiếng vào bậc nhất...
Read moreChùa Thập tháp có tên đầy đủ là "Sắc tứ Thập tháp Di đà tự", vị trí tại Phường Nhơn Thành, Thị xã An Nhơn, Tình Bình Định. Chùa do Thiền sư Nguyên Thiều kiến tạo, khai sơn năm 1683 và được Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch phong Sắc tứ năm 1691. Thiền sư Nguyên Thiều (1648-1728) tên tục là Tạ Hoán Bích, người Huyện Trình Hương, Phủ Triều Châu, Tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa theo thuyền buôn đến ngụ cư tại Phủ Quy Ninh, nay thuộc Tỉnh Bình Định. Năm 1677, Sư lập một thảo am nhỏ thờ Phật A Di đà trên vùng đất nguyên là di chỉ Champa xưa gắn liền với Thành Đồ Bàn cách đó khoảng 2Km đường chim bay về phía nam, đây là nơi thờ cúng của các Vương triều Chiêm Thành từng đóng đô tại Đồ Bàn (982-1471), có 10 ngôi tháp đã hoang phế, sụp đổ theo thời gian gọi là Gò Thập tháp. Năm 1683, chùa được xây dựng kiên cố hơn bằng chính gạch của 10 ngôi tháp cổ và đặt tên "Thập tháp Di đà tự". Phía trước, bên ngoài Chùa là một hồ sen khá rộng có bờ bao xây bằng gạch. Cổng vào khá nhỏ, có lẽ phù hợp với khuôn viên Chùa khi mới kiến tạo, hiện nay có một cổng lớn gần đó để khách thập phương ra vào viếng bái. Chính điện có 5 gian cấu trúc chủ yếu bằng gỗ, lợp ngói âm dương, còn lưu giữ nhiều dấu ấn của lần trùng kiến năm 1749 bởi Thiền sư Liễu Triệt. Từ ngoài nhìn vào, bên trái Chánh điện là Tây đường, nơi thờ Sơ tổ khai sơn Nguyên Thiều cùng chư vị kế thừa trụ trì Chùa, bên phải là Đông đường, dùng làm nơi tiếp khách thập phương và là giảng đường cùng nơi ở của tăng chúng, nơi này đã từng hư hại nặng do chiến sự, được trùng tu năm 1967 với phong cách tương đối hiện đại hơn kiến trúc nguyên bản. Phía sau Chánh điện, cách một khoảng sân nhỏ gọi là Giếng trời đến Nhà Phương trượng do Quốc sư Phước Huệ xây dựng năm 1924, gồm một gian giữa có nhà chờ ở trước và hai gian bên được nâng cao hơn giống như căn gác. Bên trái Nhà Phương trượng là Dãy nhà Thánh có kiến trúc đơn giản thờ Chư vị thần linh trong tín ngưỡng Trung Hoa: Cửu Thiên huyền nữ, Quan công, Thập điện Diêm vương.., bên phải, gắn liền với Đông đường là Nhà trù. Không được thực mục sở thị nhưng theo tư liệu của Tỉnh Bình Định thì Chùa còn lưu giữ 2.000 bản khắc gỗ dùng in kinh Di Đà, Kim Cang, Pháp Hoa. Ngoài ra còn 2 bộ Đại Tạng kinh Cao Ly (Đại Hàn) và Đại Tạng kinh Đài Loan do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ (hậu duệ Mạc Cửu) cúng dường cùng 1.200 quyển kinh, luật, luận và ngữ lục. Trong vườn Chùa, gần cổng chính, phía sau bức bình phong đắp nổi tượng Long Mã phù đồ là gốc Dương cỗi có phần thân gốc chắc phải đến 5 vòng ôm người lớn. Lùi hẳn về phía sau Chùa là Vườn Bảo tháp gồm 21 tháp lớn, nhỏ mang phong cách kiến trúc của nhiều thời kỳ khác nhau trải dài gần 300 năm. Toàn cảnh Chùa thấm đẫm màu thời gian, tọa lạc trong một không gian tịnh vắng, thanh thoát khiến thần thái người thế tục đến viếng kiểng Chùa như được bốc lên cao, lùi ngược về hàng thế kỷ cùng tiếng chuông buổi công phu chiều trầm đục, ngân vọng trong hoàng hôn tịch mịch. (thông tin...
Read more