[Tản mạn mùa xuân]
Hình ảnh cây mai trong sương sớm nắng gió mưa chiều qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông vẫn âm thầm khẳng định sức sống bằng cách đâm chồi nảy lộc nở hoa đã trở thành biểu tượng cho trạng thái thân - tâm vô nhiễm trong cuộc đời, là năng lực sống nhiệm màu vô biên và hằng cửu.
Thế nên, Thiền sư Mãn Giác có bài kệ “Cáo tất thị chúng” đã trở thành một thi phẩm cổ điển đi suốt hành trình một thiên niên kỉ của nền văn học trung đại Việt Nam luôn lấy mối tương quan về sự tuần hoàn của thiên nhiên và sự xoay vần của kiếp người làm nguồn cảm hứng:
Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai. Sự trục nhãn tiền quá, Lão tùng đầu thượng lai. Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Những câu thơ là lời tâm sự chân tình về sự việc đến và đi trong cuộc đời ngắn ngủi của một con người. Vạn vật của đất trời đều vận hành tuần hoàn trong một chu kỳ: thành, trụ, hoại, không và con người cũng không thể cưỡng nổi quy luật: sinh, lão, bệnh, tử. Thế nhưng, sau sự huỷ diệt là bất diệt, mùa xuân lại được tiếp nối và sự sống con người được tái sinh. Mùa xuân của đất trời kiến tạo mùa xuân của đời người thanh khiết hơn, đẹp đẽ hơn.
Chính vì thế, Hạnh phúc thật sự của một đời người đó là sống với cái tâm chân thật, vượt qua những cám dỗ của cuộc đời, hãy nhìn sự vật cũng như những biến đổi của thời cuộc ở trạng thái an nhiên nhất, nhẹ nhàng nhất. Một mặt vẫn bình thản trước vòng xoay của tạo hoá mặt khác lại ngầm gợi đến niềm hi vọng cái sau sẽ tốt đẹp hơn cái trước.
Chắc hẳn Mãn Giác thiền sư đã nở nụ cười viên mãn bước tiếp hành trình bất tận của người, còn dư vị của ý thơ và nhành mai Mãn Giác vẫn nở hoa mỗi độ xuân về mang thông điệp cho chúng ta về ý nghĩa cuộc đời để thêm yêu người, yêu học tập-lao động-sáng tạo, yêu cuộc sống tươi đẹp quanh ta.
Mời các bạn chiêm nghiệm bản dịch của Họa văn-thi sĩ Võ Đình, là một nghệ sĩ ẩn cư trên ngọn đồi ở miền xứ lạnh Maryland thuộc vùng Trung Đại Tây Dương xa xôi, để thấy sức mạnh truyền đạt của một bài thơ, sự thần diệu của văn hóa đã vượt qua một nghìn năm và du hành từ Đông sang Tây…
Xuân đi, trăm hoa rãi Xuân đến, trăm hoa khai. Xem chuyện đời trước mắt Tóc trên đầu đã phai. Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Tối qua, vườn trước một cành mai.
From me with
Read moreTu viện Khánh An (phường An Phú Đông, quận 12, TP HCM) ban đầu là ngôi chùa nhỏ do Tổ sư Trí Hiền (thầy Năm Phận)[1] xây dựng năm 1905. Thời điểm ấy, ông Biện Lục hiến tạng một thửa dất khoảng 80 sào (gân 4 ha) cho sư Trí Hiền để xây dựng chùa Khánh An. Vì vậy nhân dân địa phương thường gọi chùa Khánh An là “chùa thầy Phận” hay “chùa thầy Năm Phận".[1]
Chùa Khánh An khi ấy chỉ là ngôi chùa nhỏ nằm giữa hai làng An Lộc Đông và Hanh Phú (sau này là An Phú Đông) từng là nơi tập hợp nhiều chiến sĩ yêu nước tham gia chống Pháp.[2]
Tháng 7 năm 1939 Chi bộ Đảng đầu tiên của vùng An Lộc Đông được thành lập tại chùa Khánh An. Năm 1940, hai thôn An Lộc Đồng và Hanh Phú sáp nhập thành An Phú Đông. Chi bộ An Phú Đông lúc này có khoảng 20 đảng viên. Thầy Năm Phận - trụ trì chùa Khánh An cũng gia nhập tổ chức Đảng.[1]
Dưới sự lãnh dạo của Chi bộ Đảng An Lộc Đông, từ năm 1939 phong trào cách mạng vùng An Lộc Đông phát triển ngày càng mạnh mẽ với nhiều hình thức như: tổ chức mit-tinh đòi giảm sưu giảm thuế, chống bắt thanh niên Việt Nam đi lính làm bia đỡ đạn cho Pháp.... Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, tháng 7 năm 1940, Xứ ủy Nam Kỷ họp mở rộng quyết định chuẩn bị khởi nghĩa. Các Ban khởi nghĩa được thành lập.
Tỉnh úy Gia Định cử Nguyễn Văn Tiến (tức Mười Tiến - tỉnh ủy viên tính Gia Định) lãnh dạo Ban khởi nghĩa tại tổng Bình Trị Thượng. Nhận được chỉ đạo của cấp trên, các thành viên trong Chi bộ An Phú Đông trong đó có thầy Thích Trí Hiền đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động nhằm chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.
Khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, một số thành viên của Chi bộ An Phú Đông phụ trách tấn công bót Vườn Tiêu Tân Sơn Nhất, bót ngã năm Vĩnh Lộc bị bắt, trong đó có thầy Thích Trí Thiện, Thầy Thiện bị giam cầm khoảng 1 năm. Mặc dù đã sử dụng những hình thức tra tắn đã man nhưng thực dân Pháp không thê khai thác được thông tin gì nên chúng buộc phải trả tự do cho thầy. Nhưng do bị thương tích nặng vì tra tấn, năm 1942 Thượng tọa Thích Trị Thiện đã qua đời.
Sau khi thầy trụ trì tạ thế, chùa Khánh An vẫn tiếp tục trở thành cơ sở bí mật của phong trào cách mạng. Tháng 3 năm 1945, Mười Lụa vượt ngục trở về An Phú Đông đã đến chùa Khánh An đề ẩn náu. Từ đây, ông bắt liên lạc với Phạm Văn Khải (tức Bảy Khái) Bí thư Chỉ bộ xã Quới Xuân để củng cố lại Chi bộ An Phú Đông.[2]
Sau ngày Nam Bộ kháng chiến, tháng 11 năm 1945. lực lượng quân sự và các cơ quan của tỉnh Gia Định đang đóng tại Gò Vấp rút về An Phú Đông. Ngày 25/12/1945 Ủy ban kháng chiến tỉnh Gia Định quyết định xây dựng căn cứ An Phú Đồng trên địa bàn hai xã An Phú Đông và Thạnh Lộc. Chùa Khánh An năm trong căn cứ An Phú Đông và là một cơ sở của lực lượng kháng chiến, chùa Khánh An còn nơi Tiểu đội 17 Vệ quốc đoàn tiễn hành sản xuất các loại vũ khí thô sơ như súng mút, mìn ve chai, lựu đạn... để phục vụ...
Read moreTu viện mang phong cách Nhật Bản ở Sài Gòn
Tu viện Khánh An (quận 12) có lịch sử trăm năm, được trùng tu với kiến trúc tựa như những ngôi chùa Nhật Bản, thu hút nhiều khách tham quan.
Tu viện Khánh An (phường An Phú Đông, quận 12, TP HCM) ban đầu là ngôi chùa nhỏ do Tổ sư Trí Hiền xây dựng năm 1905. Thời điểm ấy, một gia đình giàu có trong vùng đã hiến cho sư thầy 6 hecta đất để làm chùa. Chùa Khánh An khi ấy nhỏ nằm giữa hai làng An Lộc Đông và Hanh Phú (sau này là An Phú Đông) từng là nơi tập hợp nhiều chiến sĩ yêu nước tham gia chống Pháp. Chùa nhiều lần bị thực dân Pháp đốt phá.
Sau những lần bị phá, dấu tích chùa có khi chỉ là am nhỏ dựng bằng tre nứa hoặc bằng gạch vữa sơ sài. Đến năm 2006, chùa được trùng tu lớn, gần như xây dựng mới và hoàn thiện như hiện tại vào năm 2016, đổi tên thành tu viện Khánh An. Công trình lớn nhất là khu chánh điện được xây dựng uy nghiêm với bốn tầng bằng vật liệu chủ yếu là gỗ và đá.
Tu viện Khánh An mang phong cách của Phật giáo Bắc Tông, đậm nét kiến trúc Á đông. Lối lên chánh điện là những bậc thang bằng đá với hoa văn trạm trổ hình hoa sen.
Chánh điện của chùa được mang tên Phật đường tỉnh thức với kết cấu chủ đạo làm bằng gỗ, là nơi tụng kinh lễ bái, tọa thiền của các chư tăng phật tử.
Theo trụ trì chùa, khi xây dựng mới, nhà chùa trở về với trạng thái nguyên sơ, không trang trí các linh vật như rồng phụng bởi đây thuộc về văn hoá cung đình.
Tu viện có nhiều nét kiến trúc tựa như những ngôi chùa Nhật Bản. Nổi bật là khu nhà tăng và khách đường với kết cấu bằng gỗ hoặc sơn màu giả gỗ cùng đường sắc thái màu đỏ đặc trưng của xứ mặt trời mọc.
Về sắc màu, chùa có có ba gam màu chủ đạo là màu nâu của gỗ; màu trắng của vôi và màu vàng - màu của những hoa văn tượng trưng cho chất liệu đồng.
Khu nhà tăng và khách đường nổi bật với màu đỏ rực, lồng đèn treo khắp nơi cùng khoảng sân rộng rãi.
Trên nóc của nhà tăng và khách đường là tòa tháp với màu đỏ và mái ngói ít hình rồng phượng. Điểm nhấn là phần chóp tháp màu vàng cao vút trên nền trời, kiến trúc thường thấy trong đền chùa Nhật Bản.
Quanh khuôn viên là những chiếc đèn làm bằng gỗ và giấy có hình lục giác, thường thấy trong các lễ hội hoặc ở lối đi cổng đền chùa của Nhật Bản tại tu viện Khánh An.
Xung quanh dãy hành lang, khu chánh điện, nhà tăng... cũng đều được treo nhiều loại đèn lồng. Theo các sư, vào ngày rằm, giỗ Tổ hay các khóa tu thiền... đèn lồng sẽ được thắp sáng khắp tu viện.
Hàng ngày, tu viện thu hút nhiều đoàn khách tới thăm viếng, chụp hình. Ngoài ra, nhà chùa còn thường xuyên tổ chức các khóa tu, thiền nhằm đưa tinh thần phật học...
Read more