Lịch sử Thất Phủ cổ miếu được gọi là chùa Ông vì vị thần được thờ chính ở đây là Quan Công – vị thần tượng trưng cho trung, hiếu, tiết, nghĩa… Chùa Ông ở đây còn có tên nữa là Miếu Quan Thánh Đế. Chùa được dựng vào năm 1684, gắn liền với quá trình khai hoang mở cõi vùng đất Biên Hòa.
Sau đó, do chiến tranh tàn phá, ngôi chùa Ông gần như bị hư hại hoàn toàn. Đồng bào người Hoa ở đây mới góp tiền trùng tu lại ngôi chùa này vào các năm 1817, 1868 và 1894. Riêng đợt trùng tu 2009-2010 là đợt trùng tu lớn, song tuân thủ nguyên tắc phục chế theo nguyên mẫu, có tôn tạo nhưng không làm thay đổi kiểu thức đã có nên giữ được kiến trúc đặc trưng của ngôi miếu của cộng đồng người Hoa đã tồn tại trên 300 năm ở vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.
Kiến trúc Ngôi chùa Ông là một kiến trúc xưa khá tiêu biểu với kiểu hình chữ khẩu, gồm có hai công trình phụ hai bên, được gọi là đông lang và tây lang. Phía trước ngôi chùa là một khoảng sân rộng, sạch sẽ được bao bọc bởi một hàng rào kiên cố. Bên ngoài là con sông Đồng Nai hiền hòa chảy. Bờ sông có rất nhiều cây cổ thụ, tán rộng, phủ mát cả mặt sân. Tường chùa được xây theo kiểu không tô, lộ ra nhiều viên gạch chồng lên nhau. Mái chùa lợp ngói âm dương màu đỏ thắm, đầu mái có gắn ngói ống thanh lưu ly. Trên mái nóc là cả một công trình điêu khắc độc đáo với các tượng gốm men xanh của thợ gốm Cây Mai (Chợ Lớn) xưa về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt… Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạc tạo nên kiểu thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.
Bên trong chùa Ông được chia làm ba khu vực: tiền điền, trung điện và chính điện, cùng với rất nhiều cây cột gỗ to, tròn, đen bóng cùng nhau nâng đỡ mái nóc. Xung quanh các cột đó có nhiều câu đối và hoành phi mà nội dung là ca tụng uy danh của Quan Công.
Bên trong ngôi chùa Ông còn có rất nhiều bao lam, võng, lọng được chạm khắc hết sức công phu và những họa tiết được trang trí đẹp nhưng cũng đầy tính tôn nghiêm. Các bức chạm khắc này thể hiện được những cảnh sinh hoạt của người Hoa thuở xưa, như: gánh nước, đốn củi… Và những con vật trong tứ linh được chạm khắc xen lẫn hoa văn con tôm, con cua, con cá… cũng hết sức tinh xảo và sinh động.
Gian chính điện, nơi có tượng thờ Quan Công. Tượng ông được đặt trong khánh thờ, khánh thờ được trang trí rất lộng lẫy, phỏng theo mô típ lưỡng long tranh châu. Tượng Quan Công mặc áo gấm xanh, ngồi oai vệ trên ngai thờ. Hai bên là Quan Bình và Châu Xương chầu hầu. Hai gian thờ kế bên là hai khánh thờ thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Kim Hoa nương nương. Ngoài ra, trong chùa Ông còn có các gian thờ Phật Mẫu Chuẩn Đề, Quan Âm, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bao Công, Thần Tài… thờ các con vật linh, như: rồng, hổ…
Hằng năm, Cứ mỗi độ Xuân về, vào đầu tháng Giêng âm lịch hàng năm, nhân dân và đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh đổ về di tích cấp quốc gia Chùa Ông – Thất Phủ cổ miếu (Xã Hiệp Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) để tham dự lễ hội chùa Ông.
Ngoài ra chùa Ông có rất nhiều ngày lễ lớn như: vía Ông, vía Bà, lễ Vu Lan… trong những lần lễ, vía đó, chùa thu hút rất nhiều khách thập phương đến chiêm ngưỡng và cúng bái. Đặc biệt, đây cũng là một điểm tham quan du lịch lý tưởng của du khách trong nhiều năm qua.
Có thể nói, chùa Ông ở Biên Hòa, Đồng Nai là một công trình kiến trúc xưa độc đáo thể hiện văn hóa người Hoa ở Nam bộ. Ngoài giá trị văn hóa, tín ngưỡng, còn có giá trị về mặt lịch sử: đây là một ngôi chùa gắn liền với sự định cư đầu tiên của cộng đồng người Hoa ở Nam bộ vào giữa thế kỷ XVII. Với những gía trị lịch sử-văn hóa đó năm 2011, chùa Ông đã được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa...
Read moreChùa Ông Cù Lao Phố - tục danh của Miếu Quan Đế, được khai tạo năm 1684. Sau này đổi tên thành Thất phủ cổ miếu. Sở dĩ, đây được xem là ngôi chùa của người Hoa đầu tiên ở xứ Nam Bộ là vì chùa được tạo dựng sau 6 năm - ngày tướng quân Trần Thượng Xuyên dẫn đoàn người Hoa đến Đại Việt xin thuần phục.Vào năm 1679, sau khi được chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận, tướng quân Trần Thượng Xuyên đã dẫn theo 3.000 quân thân tín, cùng với gia quyến tiến vào Bàn Lân (nay thuộc TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) để lập nghiệp. Trần Thượng Xuyên đã kết hợp với cộng đồng người Việt đến vùng đất này trước đó, khai khẩn, mở mang đất đai và tạo lập Nông Nại Đại Phố - một thương cảng đô hội, phồn thịnh bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ. Sau 6 năm an cư trên đất Việt, tướng quân Trần Thượng Xuyên đã cùng cộng đồng người Hoa tạo dựng nên cơ sở tín ngưỡng Thất phủ cổ miếu. Được biết, Thất phủ cổ miếu này do bảy phủ người Hoa đóng góp để tạo dựng, bao gồm: Phúc Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba. Thất phủ cổ miếu là cơ sở văn hoá đầu tiên của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai nói riêng và cả khu vực Nam bộ nói chung. Ngôi chùa này là nhân chứng đánh dấu cột mốc lịch sử về thời kỳ khẩn hoang, lập nghiệp và cùng bảo vệ, phát triển vùng đất phương Nam của cộng đồng người Hoa. Hơn 300 năm hiện hữu, Thất phủ cổ miếu trở thành địa điểm giao lưu của hai nền văn hóa Việt – Hoa trên vùng đất Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Thông thường, lễ hội Chùa Ông được tổ chức từ ngày 6 - 9/2 (tức mùng 10 đến 13 tháng Giêng) hàng năm, thu hút rất đông khách từ trong và ngoài tỉnh tới chiêm bái, dâng hương, dâng lễ. Nghi thức quan trọng nhất trong lễ hội là Lễ nghinh thần, rước các Đức Ông tuần du theo đường thủy và đường bộ (thuộc TP.Biên Hòa) để tôn vinh, tri ân công lao mở cõi, cũng như gợi nhớ, nhắc nhở người dân về lịch sử vùng...
Read more這座歷史悠久建立在同浦島(邊河市協和鎮)的七府古廟,清朝初年華人移民建於1684年左右,奉祀 關帝聖君,為一座關帝廟。歷經1776年西山之亂1799年的邊和水災,而後經過1817年、1868年、1894 年、1944及1947年數次重修,並於1968年及1969年之間,重塑寺內的陳設,寺廟內後方的觀音觀仍於 1927年,依現在的建築風格重建。 越南史書稱此廟為關帝廟,直到1894年 (清光緒申午年)時,該廟的石碑上才出現「七府古廟」的碑 記,因此有可能是1894年時「關帝廟」才改稱為「七府古廟」。「七府古廟」今日依然屹立在邊和,不 僅是今日越南南方最古老的中國寺廟,同時也是邊和市民重要的精神寄託。 惟筆者未曾親自到訪「七府古廟」,僅試著依越南古代文書《嘉定通志》及《大南實錄》之記錄, 找出「七府古廟」的歷史脈絡。 Ngôi đền cổ này có lịch sử lâu đời được xây dựng trên đảo Tongpu (thị trấn Xiehe, thành phố Bianhe) vào khoảng năm 1684 bởi những người nhập cư Trung Quốc vào đầu thời nhà Thanh. Ngôi đền được dành riêng cho Đền Guandi Saint King là một ngôi đền Guandi. Nó đã trải qua cuộc nổi loạn Tây Sơn năm 1776, trận lụt Bianhe năm 1799, và sau đó là các năm 1817, 1868 và 1894 Ngôi chùa đã được cải tạo nhiều lần vào các năm 1944, 1947 và từ năm 1968 đến 1969, đồ đạc trong chùa đã được cải tạo. Tượng Quan Âm ở phía sau chùa vẫn còn đó. Vào năm 1927, tòa nhà được xây dựng lại theo phong cách kiến trúc hiện tại. Sách sử Việt Nam gọi ngôi chùa này là chùa Quán Đế. Mãi đến năm 1894 (năm nhà Thanh) mới xuất hiện dòng chữ "Thất Châu Cổ Tự" trên bia đá của ngôi chùa này. Do đó, xin lưu ý rằng có thể "Đền Guandi" đã được đổi tên thành "Đền cổ Thất Châu" vào năm 1894. "Đền cổ Thất Châu" vẫn còn tồn tại ở khu vực biên giới ngày nay, nhưng Đây không chỉ là ngôi chùa Trung Hoa cổ nhất ở miền Nam Việt Nam hiện nay mà còn là nơi thờ cúng tâm linh quan trọng của người dân Biên Hòa. Nhưng tác giả chưa bao giờ đến thăm Đền cổ Thất Trấn, và chỉ cố gắng tìm kiếm các ghi chép từ các tài liệu cổ của Việt Nam "Gia Định Thông Trị" và "Đa Đa Đao" Tìm hiểu bối cảnh lịch sử của "Bảy...
Read more