Dân địa phương gọi Chùa Hoằng Ân là Chùa Quảng Bá vì hiện nay chùa thuộc thôn Quảng Bá, phường Quảng An.
Chùa có tên chữ đầu tiên là “Báo Ân tự”. Tương truyền chùa được xây dựng từ thời Lý do thiền sư Ngô Ân (1019 - 1088) người làng khởi lập am thờ Phật. Đến năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) chùa được xây dựng lớn. Đến thời Lê, Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng, là vợ chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (1623 - 1657) đứng ra xây lại, quy mô rộng lớn hơn trước và chùa vẫn giữ nguyên tên là Báo Ân tự thuộc phường Quảng Bố (Quảng Bá), huyện Vĩnh Thuận, phủ Phụng Thiên, kinh thành Thăng Long.
Năm Tân Sửu (1841) vua Thiệu Trị lên ngôi, năm sau nhân ra tuần du Bắc Hà đến thăm chùa và cho đổi tên chùa là Hoằng Ân. Nhà vua còn cho 200 quan tiền để tu sửa chùa vì nhiều chỗ dột nát và sai các học sĩ ở Viện hàn lâm soạn văn bia để ghi lại sự tích này. Chùa được tu sửa xong thì năm 1884, Binh bộ Thượng thư kiêm Tổng đốc Hà Ninh là Mai Công Ngôn cúng tiền để đúc tượng Phật A Di Đà bằng đồng. Năm 1923 chùa lại được trùng tu lớn và tác một số tượng bằng gỗ.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp chùa là một trong những cơ sở cách mạng an toàn của Đảng. Các vị tăng ni của chùa đã có công nuôi giấu, bảo vệ cán bộ. Nền nhà tổ của chùa hiện còn dấu vết căn hầm bí mật, nơi cán bộ cách mạng trú ẩn. Gác cao xây kề nhà tổ là địa điểm quan sát rất thuận lợi trong những lần cán bộ về đây hội họp và được các nhà sư hết lòng giúp đỡ. Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, chùa là nơi đóng quân của bộ đội Thông tin.
Chùa có kết cấu “nội công ngoại quốc”. Tòa tiền đường năm gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, chính giữa bờ nóc đắp nổi hình hổ phù đội mặt trời. Phía trước hai hồi xây dựng hai cột trụ đỉnh trụ đắp hình búp sen. Tường chùa xây bằng gạch vồ của thế kỷ XV - XVII. Mặt bằng nội thất có sáu hàng chân cột gỗ tròn, đặt trên các chân tảng đá xanh mịn. Bộ khung đỡ mái gồm sáu bộ vì kèo. Vì kèo làm kiểu “chồng rường - con nhị”. Chùa được bao đố lụa, ba gian giữa có hệ thống cửa bức bàn, cửa làm kiểu “thượng song - hạ bản”. Kiến trúc đơn giản chỉ bào trơn đóng bén. Nền nhà lát gạch Bát Tràng. Tòa thượng điện, một nếp ba gian, xây dọc chạy về phía sau, kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, có bốn hàng chân cột gỗ tròn đỡ mái, cột làm kiểu “thượng thu hạ thách” đặt trên tảng đá xanh mịn, bộ khung đỡ mái gồm bốn bộ vì kèo làm kiểu “chồng rường”, nền nhà lát gạch Bát Tràng. Nhà dải vũ ở hai bên hồi thượng điện, mỗi dãy bảy gian xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Ba gian đầu hồi nối với nhà thờ tổ để trống dùng làm nơi tiếp khách. Bốn gian sau được xây kín để làm trai phòng (nơi ở của các vị sư). Các vì kèo đỡ mái làm đơn giản theo kiểu kèo cầu quá giang, nền nhà lát gạch Bát Tràng. Trong chùa có một vườn hoa cây cảnh với nhiều loài hoa quý như hồng trà, hoa mộc, hoa hồng, đào, quất bốn mùa tỏa hương thơm ngào ngạt. Đặc biệt, có cây bồ đề sum suê được trồng tại vườn. Cách bài trí của chùa như sau: Lớp thứ nhất: Tượng Tam Thế Phật. Lớp thứ hai: Tượng Quan Âm Nam Hải. Lớp thứ ba: Tượng A Di Đà, hai bên là tượng Quan Âm và Thế Trí. Lớp thứ tư: Bộ tượng Hoa Nghiêm tam thánh. Lớp thứ năm: Tượng Phật Bà Quan Âm thiên thủ, thiên nhỡn. Lớp thứ sáu: Tượng Ngọc Hoàng. Lớp thứ bảy: Tòa cửu long và Phật...
Read moreHôm nay, 23-12 (11-11-Quý Mão), tại tổ đình Hoằng Ân (chùa Quảng Bá, Q.Tây Hồ, Hà Nội), Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự GHPGVN TP.Hà Nội và môn đồ pháp quyến trang nghiêm tổ chức Lễ tưởng niệm 30 năm ngày Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận - Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN viên tịch. Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quảng, Đệ tứ Pháp chủ GHPGVN thân lâm tham dự và có lời tưởng niệm trước bảo tháp cố Đệ nhất Pháp chủ trong khuôn viên chùa Quảng Bá.
Tham dự còn có Trưởng lão Hoà thượng Thích Thanh Dũng, Phó Pháp chủ, Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh; Trưởng lão Hoà thượng Thích Giác Quang, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh; Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Trị sự cùng chư vị Phó Chủ tịch Thường trực: Hòa thượng Thích Thiện Pháp, Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu; chư vị Phó Chủ tịch, các Ban, Viện T.Ư và lãnh đạo Ban Trị sự các tỉnh thành, chư Tăng Ni các tự viện… Bà Trần Thị Minh Nga, Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ; cùng lãnh đạo các cơ quan T.Ư, TP.Hà Nội, địa phương sở tại và đông đảo bà con Phật tử tham dự lễ.
Tại lễ tưởng niệm, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn tuyên đọc tiểu sử Đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN - Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận.
Theo đó, Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận, pháp hiệu Thanh Thiệu, pháp danh Đức Huy, thế danh Phạm Đức Hạp, sinh năm 1897 tại Hải Hậu, Nam Định; xuất gia năm 20 tuổi (1917). Bà Trần Thị Minh Nga, Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ; cùng lãnh đạo các cơ quan T.Ư, TP.Hà Nội, địa phương sở tại và đông đảo bà con Phật tử tham dự lễ.
Tại lễ tưởng niệm, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn tuyên đọc tiểu sử Đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN - Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận.
Theo đó, Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận, pháp hiệu Thanh Thiệu, pháp danh Đức Huy, thế danh Phạm Đức Hạp, sinh năm 1897 tại Hải Hậu, Nam Định; xuất gia năm 20 tuổi (1917).
Đại lão Hòa thượng đã an nhiên thu thần nhập diệt vào lúc 5 giờ 5 phút sáng ngày 11-11-Quý Dậu (1993); trụ thế 97 năm, 77 hạ lạp.
Dâng lời tưởng niệm trước bảo tháp cố Đại lão Hoà thượng Thích Đức Nhuận, Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN, Đức Đệ tứ Pháp chủ - Đại lão Hoà thượng Thích Trí Quảng nhắc lại về ý nghĩa của những nội dung lịch sử mà Đức Đệ nhất Pháp chủ đã đề đạt với Chính phủ 42 năm trước.
Ngài nhấn mạnh những điều đó đã thành hiện thực của Phật giáo Việt Nam ngày nay, với 4 Học viện và hệ thống trường Phật học đào tạo Tăng Ni khắp cả nước, số lượng Tăng Ni cũng đã hơn 5 vạn, người dân được đến chùa tu học, sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa bản sắc dân tộc... Nhân tưởng niệm 30 năm ngày viên tịch của Đại lão Hoà thượng Đệ nhất Pháp chủ, chúng con xin dâng thành tựu đó lên ngài để bày tỏ lòng tri ân đối với bậc đã đặt nền móng cho GHPGVN. Chúng con nguyện đoàn kết, cố gắng hơn nữa để kế thừa và phát huy lên một tầng cao mới, góp phần làm cho Phật giáo phát triển, cho đất nước vững mạnh, nhân dân ấm no hạnh phúc”, Đại lão Hoà thượng Thích Trí Quảng thay mặt GHPGVN bày tỏ.
Đức Đệ tứ Pháp chủ cùng chư tôn Trưởng lão, Tăng Ni đồng cử hành nghi thức tưởng niệm trước bảo tháp của Đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN. Dịp này, chư tôn đức, quan khách cùng Phật tử thập phương đã tham quan trưng bày hình ảnh và thông tin về Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận cũng được thiết trí trong khuôn viên...
Read moreNhiều tư liệu hiện nay cho biết chùa được xây dựng vào thế kỷ XVII. Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm trong sách Hà Nội danh lam cổ tự (NXB. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003) cho rằng niên đại xây dựng chùa chưa được xác định rõ, tương truyền xây dựng từ thời Lý với nhiều tên gọi khác nhau qua các thời đại như Long Ân, Sùng Ân, Hoằng Ân và Báo Ân. Văn bia năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) cho biết công chúa Ngọc Tú (vợ chúa Trịnh Tráng) cho xây sửa ngôi chùa Long Ân ở phường Quảng Bá quy mô to lớn với kết cấu khu chùa chính gồm: tam quan, tiền đường, chánh điện, nhà Tổ và hành lang tả hữu. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), khi tuần thú Bắc Hà, vua xa giá tới thăm chùa đã cho đổi hiệu thành Sùng Ân. Đến đời Thiệu Trị, vì vua xây Hiến Lăng trong đó có tẩm điện Sùng Ân nên chùa lại được bộ Lễ tâu xin đổi tên là Hoằng Ân. Năm Duy Tân thứ 7 (1913), chùa lại được đại trùng tu. Chùa được xây dựng trên một thế đất đẹp, từ ngoài vào gồm: sân vườn, chùa chính, nhà Mẫu, tăng phòng, nhà Tổ, vườn tháp… Chùa chính có 5 gian lợp ngói, bờ nóc và bờ dải chạy thẳng, chính giữa đắp hổ phù đội mặt trời. Chùa có hệ thống tượng thờ đặc sắc gồm 30 pho tượng được tạc từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX như: bộ tượng Tam Thế Phật, tòa Cửu Long, tượng Bồ tát Quan Âm Nam Hải, tượng Bồ tát Di Lặc, tượng An Nan, tượng Giám Trai… Chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như đại hồng chung cao 1,50m đúc năm 1743 có khắc 4 chữ nổi Long Ân tự chung; 33 tấm bia từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX. Trong khuôn viên chùa còn có khu tháp mộ chư tổ, như bảo tháp của Hòa thượng Pháp chủ Thích Mật Ứng, Hòa thượng Pháp chủ Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Trí Độ – Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất (miền Bắc) v.v… Từ năm 1969, chùa là nơi đào tạo tăng ni của trường tu học Phật pháp trung ương. Chùa là một tổ đình lớn, một danh lam thắng cảnh của thủ đô. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1993. (Võ văn Tường - Chùa Việt...
Read more