Lễ hội mùa thu ở Miếu Nho Hà Nội được quay khoảng đầu thế kỷ 20 (1920 - 1930), người chủ trì là Toàn quyền Hà Đông đồng tổ chức buổi lễ và do học giả Hoàng Trung Phúc đồng tổ chức.
Kể từ đầu thời Hậu Lý, Việt Nam đã bỏ Phật giáo và Lão giáo mà chỉ tập trung vào Nho giáo. Kể từ năm Thiếu Bình thứ hai của Lý Thái Tông (1435), lễ tưởng niệm bắt đầu và câu chuyện trở thành một câu chuyện. Thánh Tông nhà Lý đặc biệt tin tưởng vào Nho giáo và Đạo giáo, vào năm Hồng Đức thứ ba (1472), ông tổ chức lễ tưởng nhớ Khổng Tử vào ngày mùng hai xuân thu. Vào năm Hồng Đức thứ 14 (1483), Đại Thành Điện, hiên Đông và Tây của Khổng Miếu được xây dựng, cũng như Sảnh Cảnh Phủ, Nhà kho Ấn bản Sách, Kho tế lễ, Minh Luân Đông và Tây Điện.
河内文庙秋祭,拍摄时间大致为20世纪初期(1920-1930),主祭官河东总督协办大学士黄仲敷。
越南自后黎王朝始,摈弃佛老,独重儒学。自黎太宗绍平二年(1435)开始释奠,遂成故事。黎朝圣宗尤崇儒道,于洪德三年(1472)定丁祭,自此每年春秋二仲丁日祭孔。洪德十四年(1483),作文庙大成殿、东西庑,及更服殿、书版库、祭器库、明伦东西堂 The Autumn Festival at the Hanoi Confucian Temple was filmed roughly in the early 20th century (1920-1930). The officiating officer, the Governor of Ha Dong, co-organized the ceremony and was co-organized by the university scholar Huang Zhongfu.
Since the beginning of the Later Li Dynasty, Vietnam has abandoned Buddhism and Laoism and focused exclusively on Confucianism. Since Li Taizong's second year of Shaoping (1435), the memorial ceremony began and the story became a story. The Shengzong of Li Dynasty especially believed in Confucianism and Taoism. In the third year of Hong De (1472), he held a memorial ceremony for Confucius on the second day of the spring and autumn. In the 14th year of Hongde (1483), the Dacheng Hall, East and West verandas of the Confucian Temple were built, as well as the Gengfu Hall, the Book Edition Storehouse, the Sacrifice Warehouse, and the Minglun East...
Read moreĐại Trung Môn là một trong năm cửa chính của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, và được xây dựng dưới triều vua Lý Nhân Tông, vào năm 1070, cùng thời điểm Văn Miếu được dựng lên.
Người xây dựng Người cho xây: Vua Lý Nhân Tông (trị vì 1072–1127). Thời điểm: Khoảng năm 1070, khi Văn Miếu được dựng để thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết Nho giáo. Đại Trung Môn nằm ở giữa Văn Miếu Môn (cổng chính) và Khuê Văn Các, là cửa thứ hai trong trục chính của toàn bộ quần thể.
Ý nghĩa tên gọi “Đại Trung” nghĩa là “đạo trung dung lớn lao” — tư tưởng trung hòa, đúng mực, tiêu biểu cho đạo Nho. Đây là cổng tượng trưng cho sự chính trực, trí tuệ, và tinh thần học đạo của sĩ tử trước khi bước vào khu vực thờ Khổng Tử và học tập.
Kiến trúc Gồm 3 gian, với 3 lối đi: Cổng giữa dành cho vua. Hai cổng bên dành cho quan và sĩ tử. Trên mái có đề 3 chữ “Đại Trung Môn”, nét chữ cổ...
Read moreĐại Trung Môn là cổng chính thứ hai trong quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám, được xây dựng từ thời vua Lý Nhân Tông vào thế kỷ 11. Đây không chỉ là một công trình kiến trúc mang đậm dấu ấn truyền thống mà còn là biểu tượng của tinh thần học đạo và lòng tôn kính bậc thánh hiền.
Cánh cổng gồm ba lối đi, trong đó lối chính giữa chỉ dành cho vua, hai lối hai bên dành cho quan lại và học trò. Trên cổng là ba chữ “Đại Trung Môn” viết bằng Hán tự, mang ý nghĩa “cửa lớn trung dung”, thể hiện tư tưởng Nho giáo về sự trung hòa và chính trực.
Khi bước qua Đại Trung Môn, du khách như ngược dòng thời gian, đi vào không gian của hàng nghìn năm trước – nơi những bậc hiền tài đã từng dạo bước, nơi khởi đầu của con đường khoa bảng và học thuật rực rỡ của đất nước. Đây là một điểm dừng chân vừa trang nghiêm, vừa đầy cảm hứng, khiến lòng người trào dâng niềm tự hào và...
Read more